• Thu Thảo

𝐖𝐡𝐨 𝐛𝐚𝐜𝐤𝐬 𝐕𝐂? - 𝐏𝐡𝐢́𝐚 𝐬𝐚𝐮 𝐧𝐡𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐪𝐮𝐲̃ đ𝐚̂̀𝐮 𝐭𝐮̛ 𝐦𝐚̣𝐨 𝐡𝐢𝐞̂̉𝐦

Updated: Nov 17, 2020

Từ đầu những năm 2013 - 2014, thị trường startups tại Việt Nam đã bùng nổ hơn bao giờ hết với những “unicorn” như VNG, Garena.. đi kèm với xu hướng tăng lên chóng mặt của những thương vụ đầu tư cho các startup (đa phần là startup công nghệ) với con số lên tới hàng tỷ đô la bởi các quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capitals) và vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt những năm gần đây. Vậy với các deals giá trị cao như vậy, các quỹ duy trì dòng tiền của mình bằng cách nào?


Bắt đầu từ định nghĩa, Venture Capital cung cấp cho các công ty cần “venture capital” - vốn mạo hiểm với hy vọng sẽ nhận lại ROI (Return on Investment) lớn.


1. Vậy Venture Capital hoạt động như thế nào?


Có 2 phần chính trong một quỹ đầu tư mạo hiểm: general partners và limited partners. Cụ thể hơn, general partners bao gồm những người giữ vị trí cao trong bộ máy quản trị của quỹ (president or vice president) chịu trách nhiệm trực tiếp cho quyết định đầu tư của quỹ và hỗ trợ trong quá trình các startups grow. Mặt khác, limited partners (đối tác giới hạn/ Quỹ mẹ) là những người hoặc tổ chức cung cấp capital (vốn) cho quỹ để thực hiện các deals đầu tư trên. Nói một cách tổng quan nhất, general partners đưa ra quyết định đầu tư dựa trên số vốn do limited partners cung cấp.


Lấy ví dụ một quỹ VC nổi tiếng thành lập vào 2009 bởi Marc Andreessen và Ben Horowitz, Andreessen Horowitz (A16Z) là một venture capital tại Silicon Valley California đầu tư vào các startup công nghệ tại các vòng late-stage. Hiện tại, general partners của quỹ đang là Ben Horowitz, Marc Andreessen và Peter Levine. Limited partners gần đây nhất của quỹ là Talent x Opportunity Fund, ngoài ra còn có AH Parallel Fund, CNK Fund I, Sean “Diddy” Combs, Shonda Rhimes,... A16z được biết đến với những khoản đầu tư cho nhiều startup đình đám như Skype, Airbnb, GitHub, Medium. Tính đến thời điểm hiện tại, a16z đã đầu tư vào 901 công ty và đã exit thành công 223 cases, đáng chú ý nhất là GitHub, Zynga và Plaid.



Nguồn: Unsplash


2. Các limited partners tiêu biểu của Venture Capital là ai?


  • Pension funds (Quỹ lương hưu): Đối với đa số các tổ chức, nhân viên sẽ phải trả một khoản tiền hàng tháng, quyết định mức lương hưu của họ sau khi họ nghỉ hưu. Số tiền đó khi chưa được dùng đến sẽ được đầu tư vào các VC. Với những công việc do nhà nước trợ cấp lương hưu như giáo viên, nhân viên chính phủ,.., quỹ lương hưu vẫn sẽ được đầu tư cho VC nhưng gặp nhiều rào cản hơn do quy mô lớn và luật pháp ràng buộc.

  • Endowments (Quỹ tài trợ của các trường đại học, bệnh viện và những tổ chức phi lợi nhuận): Lợi nhuận đến từ khoản đầu tư này sẽ giúp duy trì các chi phí vận hành hoặc khoản đầu tư dài hạn (xây tòa nhà mới,..). Endowments là một trong những nguồn tài chính chính của VC.

  • Foundations (Tổ chức từ thiện): Những tổ chức từ thiện lớn như Ford Foundation, Carnegie Corporation,.. đầu tư vào VC và lấy lợi nhuận để duy trì các hoạt động phi lợi nhuận của quỹ.

  • Family Offices: Vài quỹ đầu tư lâu đời trực thuộc một gia đình và phục vụ với mục đích chính tạo ra sự phồn thịnh tài chính cho gia tộc đó như Bessemer Ventures thành lập bởi the Philipps hay Venrock thành lập bởi Rockefeller family.

  • Insurance Companies (Công ty bảo hiểm): Các công ty bảo hiểm thường có rất nhiều tài sản để đem đầu tư và lấy lợi nhuận (ROI) để trả lại khách hàng dài hạn.

  • Corporations (Tập đoàn lớn): Rất nhiều tập đoàn lớn cũng là nguồn tài chính lớn đầu tư cho VC với mục đích tạo ra lợi nhuận và tìm hiểu insight về thị trường startups và công nghệ. Một vài tập đoàn đủ lớn trong Fortune 500 companies thậm chí còn thành lập quỹ riêng của mình, ví dụ tiêu biểu như Google, Intel Capital.


Nguồn: Unsplash


3. VC make profits dựa trên số tiền ấy như thế nào?


Venture Capital thường kiếm tiền và duy trì dòng tiền qua 2 hình thức chính (diễn ra đồng thời):

  • Management fees (Chi phí duy trì hoạt động): Quỹ mẹ sẽ trả một khoản tiền (2 - 2,5%/năm) dựa trên quy mô quỹ hoặc lợi nhuận đầu tư đem lại cho đội ngũ quản lý công ty. Số tiền đó vừa đóng vai trò là lương và đồng thời là chi phí duy trì hoạt động của quỹ.

  • Carried interest (Lãi suất): Khi một thương vụ đầu tư thành công (quỹ đã exit thành công), phần trăm lợi nhuận từ deal đó sẽ được trả cho fund manager. Số tiền thường dao động trong khoảng 20 - 25%, nghĩa là trong 100% lợi nhuận: 20% thuộc về general partners và 80% thuộc về limited partners.

32 views0 comments